UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

  • Banner 7
  • Banner 8
  • Banner 2
  • Banner 4
  • Banner 9
  • Banner 5
  • Banner 1
Hôm nay,

UBND xã Tiến Thành

GIỚI THIỆU CHUNG XÃ TIẾN THÀNH

4/13/2018 690 Đã xem

Xã Tiến Thành được thành lập vào năm 1984 và chính thức hoạt động vào năm 1985 cho đến nay.

Xã Tiến Thành được thành lập vào năm 1984 và chính thức hoạt động vào năm 1985 cho đến nay.

1. Đặc điểm chung của xã Tiến Thành

1.1. Đặc điểm về tự nhiên

Tiến Thành  là một xã vùng ven của thành phố Phan Thiết nằm ở phía nam thành phố Phan Thiết, có chiều dài bờ biển 19 km. Đông giáp biển, tây giáp 02 xã Hàm Mỹ, xã Hàm Cường của huyện Hàm Thuận Nam, nam giáp xã Thuận Quý của huyện Hàm Thuận Nam, bắc giáp xã Tiến Lợi và Phường Đức Long thuộc thành phố Phan Thiết;

Có diện tích tự nhiên là 5.070 ha, dân số 7.960 người, sinh sống trong 1.862 hộ. Xã Tiến Thành được chia thành 6 thôn: thôn Tiến Đức, thôn Tiến Bình, thôn Tiến An, thôn Tiến Hòa, thôn Tiến Hải, Thôn Tiến Phú; gồm 32 tổ tự quản.

1.2 Đặc điểm về xã hội

1.2.1. Về dân số và đặc điểm dân cư

Dân số hiện nay của xã Tiến Thành hiện có 7.960 người với 1.862 hộ. Trong đó số hộ tạm trú trên địa bàn là 25 hộ với 386 khẩu. Đây là số biến động tùy theo từng thời kỳ, số còn lại là thường trú.

Xưa kia xã Tiến Thành là 01 đơn vị hành chính (01 thôn) của xã Tiến Lợi đến tháng 11 năm 1984 được chia cắt từ xã Tiến Lợi thành xã Tiến Thành. Bắt đầu hoạt động từ năm 1985 đến nay. Nhân dân sống ở đây một số ít họ sống từ trước giải phóng, số còn lại là di dân từ các nơi khác đến như:  dân phường Phú trinh, Đức Thắng … thuộc thị xã Phan Thiết nay là thành phố Phan Thiết. Đặc biệt có 01 thôn đó là thôn Tiến Phú, dân từ huyện đảo Phú Quý đi kinh tế vào đây sinh sống.

 Nhân dân của xã Tiến Thành sống bằng 02 nghề chính đó là làm biển và làm rẫy, làm biển ở đây chỉ đánh bắt gần bờ như các nghề lưới rùng, lưới rê, lưới kéo… trong khoảng những năm ở thập niên 90, có thôn Tiến Phú người dân đã tự giúp nhau hùn vốn mua tàu (thuyền lớn), đánh bắt xa bờ dài ngày đó là nghề câu cá mập, do nạn cướp biển và không đủ vật chất kỹ thuật nên đã nhiều lần bị tàu các nước khác bắt, lấy tàu đánh đập người rồi thả người về địa phương. Nên hiện nay họ đã không còn hành nghề này nữa chỉ còn nghề đánh bắt gần bờ tồn tại. Nhưng hiện nay ngư trường cạn kiệt và nạn đánh thuốc nổ, nên ngư nghiệp ở đây cũng gặp không ít khó khăn.

Song về nông nghiệp cũng không ít khó khăn vì hiện nay đất đai bạc màu thời  tiết thất thường, dịch bệnh ngày càng nhiều, phân bón thuốc trừ sâu giá ngày càng cao, còn đôi lúc gặp nhằm phân giả, phân không có chất lượng hoặc kém chất lượng . Đến thu hoạch thì giá cả không hợp lý.

1.2.2. Về điều kiện phát triển kinh tế xã hội địa phương

Trước hết là có những chủ trương, chính sách, Nghị quyết mới của Đảng và pháp luật của nhà nước ban hành phù hợp với yêu cầu thực tế đời sống của nhân dân của địa phương. Được sự quan tâm chỉ đạo của Thành Ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết cùng với sự hỗ trợ của các ban ngành đoàn thể tại địa phương.

Tình hình thời tiết trong những năm qua không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, giá cả các loại vật tư và một số mặt hàng sản xuất tăng cao. Trong khi đó sản phẩm đầu ra còn thấp, bấp bênh. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống tuy có phát triển nhưng còn thiếu. Tốc độ đô thị hóa làm cho đất sản xuất ngày càng bị thu hẹp, vẫn còn một số ít người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm.

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của xã: Trong diện tích cây mè hàng năm chiếm 40% diện tích canh tác của vụ, còn lại khoản 20% là các loạt cây khác như; đậu phộng và các loại đậu khác, đặt biệt trong thời gian gần đây nông dân ở xã Tiến Thành đã tìm hiểu từ các nơi khác và đã thay đổi cây trồng lâu năm đó là cây thanh long , năm nay cây thanh long chiếm diện tích khoảng 40% và đem lại hiệu quả khả quan hơn.

Ngoài nông nghiệp người dân ở xã Tiến Thành còn thu nhập bằng ngư nghiệp, đa số nhân dân ở đây đánh bắt gần bờ hiện nạn giã cào bay và nạn đánh chất nổ của các thuyền lớn của các phường xã bạn làm rất khó khăn trong kinh tế.

Song xã Tiến Thành còn có các khu du lịch hiện đang trong thời kỳ xây dựng và hoạt động bước đầu, nên đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động thất nghiệp ở xã nhà, tuy không ổn định nhưng góp phần giải quyết kịp thời cho các hộ dân.

Xã Tiến Thành  nằm trên trục đường Quốc lộ 719 nối liền từ huyện Hàm Thuận Nam, Phan Thiết, Mũi Né có bờ biển đẹp, trục đường này lưu thông các trọng điểm du lịch như Mũi Kê gà nối dài đến Dinh thầy thím, suối nước nóng Bình Châu rất thích hợp cho phát triển Du Lịch nên có khá nhiều doanh nghiệp đến đầu tư Du lịch.

2. Lịch sử hình thành vùng đất và con người xã Tiến Thành trước khi thành lập năm 1984.

2.1 Vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên và đời sống dân cư

Thời  Pháp thuộc được phân chia trên địa bàn xã Tiến Thành gồm 4 làng ven biển có địa giới hành chính đó là: Làng Tú Luông, làng Tân Bình, làng Bình Sum và làng Kim Thạnh.

Làng Tú Luông phía Bắc giáp với làng Nhuận Đức (làng Nhuận Đức sau thời Mỹ- Diệm xoá đi đặt tên lại là ấp Đức Long) phía Nam giáp đến nửa xóm Đất Đỏ bao gồm Hồ Cụt, Hồ Dài. Làng Tú Luông được đặt tại sau chợ Bia Đài nhưng hoạt động trải dài xuống dân cư ở xóm Đất Đỏ.

Lúc bấy giờ phía dưới dốc Đất Đỏ gần ven biển có một cái giếng nước duy nhất xây dựng vào năm 1930 để dân cư xóm Đất Đỏ uống và sinh hoạt.

Làng Tân Bình bao gồm nửa xóm Đất Đỏ phía Nam (vì xóm Đất Đỏ chia làm hai, một nửa thuộc về làng Tú Luông, một nửa thuộc về làng Tân Bình. Sau này người ta thường gọi xóm Đất Đỏ là Bình Tú tức là hợp lại Tú Luông và Tân Bình) làng trải dài xuống xóm củ, láng Hòn Một và nửa Hồ Xe về phía Bắc. Làng Tân Bình được đặt tại láng Hòn Một trên dốc làng (nay thuộc thôn Tiến An xã Tiến Thành).

Làng Bình Sum được bắt đầu từ nữa Hồ Xe phía nam, Quán Thùng, Hòn Giồ và Dọc theo phía tây đường xe giáp đến Bàu Trâm (thời gian này ở đây xây dựng một đường dây thép để liên lạc từ Phan Thiết đến Bàu Trâm. đường dây thép đi theo ven biển đến Hòn Giồ đi lên đồi và theo dọc đường xe đến Bào Trâm). Làng Bình Sum đặt tại Quán Thùng.

Làng kim thạnh bao gồm: Xóm Xẩm, Xóm Biển, Xóm Bàu Trâm Làng Kim Thạnh đặt tại Xóm Xẩm (theo lời thông tin cho biết của cụ Nguyễn Tấn Tài và cụ Lê Thị Hoàng  hiện nay còn sống đã 90 tuổi)..

Bộ máy Quản lý thời kỳ Pháp thuộc ở làng gồm:

          - Lý Trưởng (quản lý trong làng).

- Hương Bộ (quản lý sổ sách có liên quan trong làng).

- Hương Bổn (giữ tiền bạc và tài chính trong làng).

- Hương Biện, Hương Mục (tính toán tiền bạc chi phí trong làng).

- Hương Kiểm (kiểm soát các việc trong làng).

  2.1.1 Về kinh tế:

Dân cư trong làng tập trung chủ yếu sống bằng 2 nghề chính là: Làm rẫy trồng màu và đánh bắt hải sản ven bờ.

  Dân cư trồng màu là các loại đậu, dưa lấy hạt. Có số hộ trồng lúa rẫy để đảm bảo lương thực tự cung, tự cấp. Các vùng dân cư làm rẫy chủ yếu là xóm Đất Đỏ, xóm Hòn Một, xóm Quán Thùng, xóm Bàu Trâm.

  Dân cư đánh bắt hải sản ven bờ chủ yếu là lưới rùng (nhợ gai) phương tiện bằng xuồng chèo. Các vùng dân cư đánh bắt hải sản là cư dân ven biển như: Xóm Biển, Xóm Trạm; có số hộ dân ở Xóm Biển chế biến nước mắm làm hàng hoá bán cho người dân ở địa phương.

  2.1.2 Về giao thông:

  Giao thông chưa phát triển, chỉ có đường đất, đường mòn. Phương tiện vận chuyển bằng xe trâu nhưng chủ yếu là gánh bộ, có những việc cần liên lạc thì dùng ngựa để đi.

   2.1.3 Về xã hội:

Thời kỳ này do ảnh hưởng chế độ nữa phong kiến và thuộc địa kềm hãm, đa số người dân thiếu thốn về vật chất cũng như tinh thần. Đến năm 1944 Nhật xâm chiếm nước ta bắt người dân nơi đây nhổ dưa, nhổ đậu trồng thầu dầu đời sống nhân dân cơ cực đói khổ.

  2.2 Sự hình thành và phát triển qua từng giai đoạn lịch sử.

          2.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954: Phong trào cách mạng của nhân dân và sự thành lập xã vùng căn cứ kháng chiến.

  - Phong trào cách mạng tháng tám bùng nổ, nhân dân trong làng (nay là Tiến Thành) được cán bộ Việt Minh lãnh đạo đấu tranh giành độc lập tự do. Đến năm 1946 dân cư trong làng được kêu gọi rút vào chiến khu để chuẩn bị trường kì kháng chiến khi Pháp xâm lượt lần hai.

  - Trong thời gian này cán bộ và nhân dân ở đây lập căn cứ địa chống càn và đã đẩy lùi những cuộc càn quét của quân Pháp và tay sai, tiêu biểu là trận đánh du kích tại láng Chổi Chà, Lao Tiêu Khô đã diệt nhiều tên giặc pháp.

 Thành lập các xã vùng căn cứ kháng chiến:

  - Trong thời gian kháng chiến được lãnh đạo Việt Minh phân bố dân cư và địa gới hành chính để dễ dàng quản lý hoạt động.

 + Làng Tân Bình và làng Tú Luông được hợp lại đặt là xã Minh Quang, Hàm Thuận địa bàn từ Bưng Nhan đến Bưng Cò Ke.

 + Làng Bình Sum và làng Kim Thạnh hợp lại là xã Minh Cảnh - Hàm Thuận, Địa bàn từ xóm Quán Thùng, xóm Bàu Trâm, xóm Biển, xóm Trạm.

 Năm 1948 dưói sự vây lùng bố ráp cán bộ và nhân dân ở chiến khu của quân pháp và tay sai xã Minh Quang tan rã đến năm 1950 thành lập lại xã đặt là xã Tiến Lợi.

Vào thời điểm kháng chiến năm 1947 cơ quan thị xã Phan Thiết rút về căn cứ nằm ngay Lao Tiêu Khô để chỉ đạo kháng chiến (hiện nay khu vực đó nằm dưới dốc Giáng Hương thuộc khu vực thôn Tiến An xã Tiến Thành). Lúc đó ông Năm Xuân làm chủ tịch. Thị xã gồm 6 phường: Đức Long, Lạc Đạo, Đức Thắng, Đức Nghĩa, Bình Hưng, Hưng Long. Trong thời gian này cơ quan phường Đức Long , Lạc Đạo đóng tại Hồ Dài (hiện nay là khu vực thôn Tiến Bình). Cơ quan Đức Thắng đóng tại Xóm Trạm (hiện naylà địa bàn thôn Tiến Hải).

Về kinh tế:

Người dân trong vùng kháng chiến đẩy mạnh tăng gia sản xuất theo sự lảnh đạo của cán bộ chiến khu. Sản xuất chủ yếu làm rẫy trồng bắp, dưa, khoai, đậu, lúa rẫy để phục vụ kháng chiến và đời sống người dân ở vùng kháng chiến. Nhưng sản xuất nông nghiệp trong thời gian này có nhiều nguy cơ mất mùa liên tục vì ảnh hưởng thời tiết và đặc biệt là những trận càn của quân Pháp đi đến đâu đốt nhà phá hại hoa màu đến đó, đời sống người dân vùng kháng chiến gặp nhiều khó khăn có khi phải dùng củ mài, củ nầng để ăn bám trụ.

2.2.2 Giai đoạn từ năm 1954-1964.

Qua 9 năm kháng chiến miền Bắc được giải phóng, hiệp định PARI được ký kết, hoà bình lập lại dân cư các xã về làng xưa, xóm củ làm ăn. Xóm Đất Đỏ dân cư  tập trung về nhiều chủ yếu là trên dốc (hiện nay là khu vực thôn Tiến Bình. Xóm Hòn Một dân cư thưa thớt hơn, khoảng 11hộ tập trung ở Xóm Hòn Một trên dốc làng, có vài hộ xuống dưới biển cất nhà ở làm biển và làm ruộng vườn. Dân cư ở Xóm Biển. Xóm Trạm về đông hơn, có số người dân từ Quãng Bình, Quãng Trị vào đây sinh sống ở dưới dốc Hòn GIồ (nay thuộc khu vực thôn Tiến Hoà). Thời gian này ở đây xã Kim Bình được thành lập cơ quan đặt tại Xóm Quán Thùng.

Sau ngày đình chiến năm 1954- 1956 dân cư chưa kịp ổn định đời sống thì Mỹ- Diệm vây ráp người kháng chiến củ tàn bạo và đưa ra chính sách dồn dân lập ấp. phong trào người dân nơi đây phản kháng quyết liệt. với phong trào phản kháng của người dân Mỹ- Diệm càng vây ráp quyết liệt hơn. Quyết liệt nhất là năm 1959-1961 Mỹ - Diệm vây ráp tàn bạo hơn. Đêm thì thả đèn lùa, ngày thì đưa máy bay chuồn chuồn đến dồn dân lập ấp nên đa số người dân ở xã thời đó bị Mỹ- Diệm lùa ra đưa ghe thuyền đem về ấp Đức Long, Kim Hải để kiểm soát. Đến năm 1962 toàn bộ địa bàn là vành đai trắng của Mỹ- Diệm ngày đêm bị đại bác từ tàu hạm và CĂNG ESEPIC bắn phá hòng tiêu diệt những người nằm lại.

Thời gian này có số cán bộ cách mạng và nhân dân thoát khỏi những trận lùaVà một số được đưa về cửa cạn (nay thuộc xã Tân Thành) đi tập kết, một số được tổ chức phân công ở lại rút vào chiến khu tiếp tục kháng chiến ở tại Bưng Nhan, Bưng Thị, Bưng Cò Ke.

2.2.3 Giai đoạn từ năm 1964-1975.

Năm 1963 phong trào cách mạng thị xã Phan Thiết nỗi lên khắp nơi ở các vùng ven nội thành nên đầu năm 1964 Mỹ, Ngụy cũng cố Căng E Se Pic làm pháo đài ngày đêm bắn phá xung quanh khu vực Bình Tú (Tiến Thành) xây dựng thành vành đai trắng hòng ngăn chặn hướng tập kích vào phía nam phan thiết của cách mạng và tiêu diệt những người ở lại vùng kháng chiến, đưa hàng loạt xe ủi, ủi rừng đồi khai hoang tàn phá cây cối thành bình địa, lập căn cứ quân sự, thành lập đồn Bạch Mai tại dốc Săn Non (nay là dốc thanh niên thuộc thôn Tiến Hoà).

Cuối năm 1964 Mỹ-ngụy đưa số người Vân Kiều Kam Pu Chia cấm dân tại đây do đạo Thiên Chúa quản lý, đặt tên là giáo xứ Vân Phong nhà thờ ở tại giếng Hòn Một củ (gần đội công tác 444 thuộc khu vực thôn Tiến An hiện nay). Người Vân Kiều Kam Pu Chia chủ yếu ở tập trung từ nhà bể (cuối xóm Đất Đỏ) đến khu vực thôn Tiến An.

Để thuận tiện đưa hàng hoá viện trợ và đi lại của người Vân Kiều từ Phan Thiết Xuống và ngược lại Mỹ- ngụy xây dựng con đường giao thông bằng sỏi nối từ Căng E Se Pic xuống dưới dốc chạy dọc theo bờ biển đến Hồ Dài, trên đoạn đường này có một cái dốc từ trên đồi đổ xuống biển độ dốc  khá cao và khúc khỷu nên sau này người ta thường gọi là dốc Kam Pu Chia.

Đến năm 1970-1972 người vân kiều Kam Pu Chia đến ở nhiều hơn, tổng số có trên 100 nóc gia.

Đến năm1974 người vân kiều Kam Pu Chia bỏ đi do bộ đội cách mạng tập kích đánh tiêu diệt đồn Bạch Mai tại dốc săn non cha cố Vân Phong hoãng sợ bỏ chạy, người vân kiều lúc này biểu tình cha cố và bỏ đi về xứ sở của họ, chỉ còn lại một người tên là ông Hai Ky ở tại gần dốc Kam Pu Chia gần nhà ông Tám Ngàn.

Về kinh tế biển: Trong thời gian từ 1964- 1975 vùng biển bị kiểm soát nghiêm ngặt của trạm Căng E Se Pic và Hãi thuyền cấm đánh bắt ở ven bờ biển. Nhưng người dân làm biển ở các phường như: Đức Thắng, Đức Long, Lạc Đạo vẫn lén lút đến đánh bắt vì ở đây nguồn hải sản Tôm, Cá dồi dào thả lưới xuống là đầy ghe khẩm chiếc. Ngư dân trong thời gian này làm biển không được tự do gặp phải những lần truy đuổi của hải thuyền, của trạm Căng E Se Pic khó khăn cho việc đánh bắt.

          2.2.4 Giai đoạn từ năm 1975 – 1984

 Sau 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 30/4/1975 miền nam hoàn toàn giải phóng dân cư về vườn xưa, đất củ làm ăn.

Ngày 19/4/1975 giải phóng Phan Thiết- Bình Thuận. Đến ngày 22/4/1975 đã có 10 hộ dân về quê củ làm ăn, đó là hộ Nguyễn Tấn Bang, Nguyễn Tấn Tài, Nguyễn Tấn Tình, Đặng Văn Cụt, Nguyễn Tấn, Đặng Thị Xí, Lê Văn Dũng, Võ Văn Thọ, Nguyễn Văn Sớt, Nguyễn Duy Linh.

 Sau 5 tháng dân cư về sinh sống ở đây được chính quyền xã Hàm Kiệm đến thành lập thôn đặt là thôn Dân Thành trực thuộc xã Hàm Kiệm. Lúc đó ông Nhãn Làm Bí Thư, ông Sắc làm chủ tịch xã Hàm Kiệm. Cử ông Nguyễn Tấn Bang làm Thôn trưởng, ông Nguyễn Tấn Tài làm nông hội phân chia ruộng đất tạm thời cho dân ở làm vườn, làm ruộng Trồng lúa nước sản xuất nông nghiệp.

Đến cuối năm 1976 thôn Dân Thành được chuyển về xã Hàm Mỹ quản lý. Lúc đó ông Hoàng Một làm Bí Thư xã, ông Lương làm chủ Tịch và ông Nam làm công an xã Hàm Mỹ- Hàm Thuận.

Năm 1976 dân cư nhiều nơi tập trung về ở đông hơn hình thành nhiều cụm dân cư như: Cụm ở xóm Đất Đỏ, cụm ở Hồ Dài, Láng Mã, cụm ở hồ Cây Tra, cụm ở Hồ xe, cụm ở Hòn Dồ, cụm xóm biển, cụm xóm Trạm Xây dựng Ban lãnh đạo thôn Dân Thành gồm:

Ông Nguyễn Tấn Tài - làm thôn trưởng.

Ông Nguyễn Soạn - làm thôn đội trưởng.

Ông Nguyễn Duy Linh - làm an ninh thôn.

Ông Nguyễn Hữu Nhanh - làm phong trào thanh niên.

Ông Nguyễn Văn Biết - làm giáo viên dạy bình dân học vụ.

Đến năm 1977 thôn Dân Thành được chuyển về khu phố 10 phường Đức Long – thị xã Phan Thiết quản lý. Địa bàn thôn Dân Thành từ dốc Căng Esepíc đến xóm trạm. Ban lãnh đạo thôn chia ra 4 đội để dễ dàng quản lý từ xóm Đất Đỏ đến Hồ Dài là đội 1, từ Hồ Dài đến đồn Biên Phòng 105 là đội 2, từ đồn Biên Phòng đến Xóm biển là đội 3, từ Xóm biển đến xóm Trạm là đội 4.  Đến cuối năm 1978 thôn Dân Thành được chuyển về xã Tiến Lợi trực thuộc xã Tiến Lợi quản lý và đổi tên là thôn Tiến Thành.

Xây dựng Ban lãnh đạo thôn Tiến Thành gồm các nhân sự là:

- Ông Nguyễn Soạn - làm thôn trưởng thôn Tiến Thành.

- Ông Nguyễn Duy Linh - làm thôn phó an ninh.

- Ông Lê Văn Xí - thôn đội trưởng du kích.

- Ông Lê hữu Trung, Nguyễn Văn Tám  - làm thôn đội phó.

Ông Nguyễn Hữu Nhanh, bà Bùi Thị Tâm Giao - làm phong trào thanh niên.

          Về Kinh tế: Dân cư sống chủ yếu bằng hai nghề làm rẫy và làm biển đánh bắt hải sản ven bờ, có số người chuyên hầm than bán cho người dân Phan Thiết. các ngư dân làm biển chủ yếu là nghề câu mực, lưới rê. Có 4 hộ hành nghề lưới rùng.   

Đến năm 1984 xã Tiến Thành được thành lập và chính thức hoạt động từ năm 1985 cho đến nay.     

3. Giới thiệu cán bộ lãnh đạo xã Tiến Thành:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO XÃ TIẾN THÀNH

 

STT

HỌ VÀ TÊN

CHỨC VỤ

SỐ ĐIỆN THOẠI

ĐỊA CHỈ EMAIL

01

Nguyễn Duy Hùng

Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch HĐND xã

0909594678

0252.3500337

hungnd_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

02

Nguyễn Văn Tám

Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã

0948877043

0252.3500336

tamnv_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

03

Trần Văn Sơn

Phó Chủ tịch HĐND xã

016633224085

0252.3500779

sontv_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

04

Tống Duy Mạnh

Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch UBND xã

0919004504

0252.3500335

manhtd_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

05

Mai Thị Tường Vi

Phó Chủ tịch UBND xã (phụ trách Văn xã)

0984269284

0903860187

vimtt_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

06

Nguyễn Ngọc Trường

Phó Chủ tịch UBND xã (phụ trách Kinh tế)

0975635720

0252.3500338

truongnn_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

07

Nguyễn Văn Trọng

Chủ tịch Ủy ban MTTQVN xã

0984880767

0252.3846271

trongnv_tt@phanthiet.binhthuan.gov.vn

 

 

 

 

Top